Đà Nẵng: Nữ quái “nổ” là cháu của cố Chủ tịch nước để lừa đảo 860 nghìn đô

20-11-2021 10:06
Để tạo niềm tin, bị cáo Lê Thị Mây sử dụng tên gọi khác là Trần Thu Hà rồi “khoe” là cháu của cố Chủ tịch nước, có thể xin giấy phép đầu tư cho 3 dự án. Sau đó, Mây thoả thuận lừa lấy tiền của bị hại tới 860 ngàn đô la Mỹ.

Ngày 17 và 18/11 vừa qua, Toà án nhân dân TP. Đà Nẵng mở phiên toà sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Thị Mây, sinh năm 1986 có hộ khẩu thường trú tại Thôn 2, xã Phú Long, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình, tạm trú tại số 35 Lê Bá Trinh, phường Hoà Cường Bắc, quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng, chỗ ở hiện nay tại Khu Euro Village, số 11 Bằng Lăng 1, phường An Hải Tây, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4, Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Theo Cáo trạng số 67/VKS-P2 của VKSND TP. Đà Nẵng cho biết: Khoảng tháng 2/2019 đến tháng 5/2019, bị hại là bà L, ông Q liên hệ trao đổi về việc Công ty CP Vietnet Investment Group có địa chỉ tại đường Trần Hưng Đạo, Quận 1, TP. HCM có nhu cầu tham gia đầu tư vào các Dự án xử lý rác thải TP. Đà Nẵng, Dự án nhà máy xử lý rác thải tỉnh Quảng Nam và Dự án khu dân cư phía Nam thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Mặc dù không có khả năng xin phép đầu tư nhưng Lê Thị Mây đưa ra thông tin gian dối khi lấy tên giả là Trần Thu Hà và có các mối quan hệ quen biết rộng, có khả năng xin giấy phép các dự án này trong vòng từ 1 đến 3 tháng, sắp và đã có giấy phép đầu tư nhưng chưa đóng dấu để bị hại tin tưởng và giao tiền.

Với thủ đoạn như trên từ ngày 28/2/2019 đến ngày 10/9/2019, Mây nhiều lần yêu cầu bị hại đưa tổng cộng 860.000 USD tương đương với hơn 19,8 tỷ đồng Việt Nam rồi chiếm đoạt. Từ đó, VKSND TP. Đà Nẵng đã quyết định truy tố bị cáo Lê Thị Mây phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, trả lời HĐXX, bị cáo thừa nhận bản thân không có chức năng để đi làm hồ sơ xin cấp phép dự án, đó là sai phạm của bị cáo. Bị cáo có nhận tiền mặt của bị hại với tổng số tiền là 860.000 USD được chia thành nhiều lần. Bị cáo cho rằng mình không gian dối, không sử dụng tiền của bị hại để chi tiêu vào việc cá nhân. Trước câu trả lời này, HĐXX cho rằng bản thân bị cáo không có khả năng xin dự án, không có quan hệ nhưng vẫn nhận tiền nhiều lần của bị hại thể hiện bị cáo khai báo luôn quanh co, chối tội.

Đặc biệt, trong quá trình HĐXX xét hỏi, bị cáo thừa nhận đã sử dụng tên Trần Thu Hà để “nổ” quan hệ họ hàng với nguyên cố Chủ tịch nước và có mối thân thiết với các vị lãnh đạo UBND TP. Đà Nẵng. Từ những thông tin gian đối, bị cáo đã tạo niềm tin và lấy tiền của bị hại với cam kết là sẽ giúp cho Công ty CP Vietnet Investment Group có được các giấy chứng nhận đầu tư 3 dự án.

Tuy nhiên, sau khi lấy được tiền, bị cáo Mây không có mối quan hệ quen biết với bất kỳ ai. Vì vậy, bị cáo Mây tiếp tục nhờ anh Nam Phước và anh Ánh đều là nhân viên của Công ty TNHH Tư vấn xây dựng Miền Trung để hỏi thủ tục và làm hồ sơ để công ty của bị hại được UBND TP. Đà Nẵng và UBND tỉnh Quảng Nam tổ chức các buổi thuyết trình nghe giới thiệu về công nghệ xử lý rác thải, báo cáo sơ bộ nội dung liên quan đến dự định đầu tư. Sau các buổi thuyết trình này, bị cáo Mây không tiến hành làm bất cứ thủ tục cần thiết theo hướng dẫn của cơ quan chức năng để công ty của bị hại được cấp phép đầu tư.

Không những thế theo trình bày của đại diện bị hại, ông Đường Ngọc Hân cho biết vào tháng 7/2019, khi bị hại hỏi về tiến độ làm hồ sơ, bị cáo Mây còn nhắn tin lại với nội dung: “Em nhìn thấy quyết định của UBND TP đã cấp giấy phép đầu tư cho công ty rồi nhưng do thư ký của đồng chí Chủ tịch đi vắng nên hẹn ngày mai đóng dấu…” để tiếp tục yêu cầu bị hại chuyển tiền. Sau đó, bị hại phát hiện ra những hành vi gian dối này và yêu cầu trả lại tiền thì bị cáo lập bản cam kết đưa ra lộ trình trả nhưng lại không thực hiện.

Tại phần tranh luận, đối đáp lại các lời khai của bị cáo, đại diện VKSND thành phố Đà Nẵng cho rằng có đủ tài liệu, chứng cứ để buộc tội bị cáo Lê Thị Mây đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị cáo hoàn toàn không có năng lực để làm hồ sơ xin đầu tư dự án. Đồng thời, bị cáo còn đưa thông tin gian dối về nhân thân để bị hại tin và chuyển tiền. Mặc dù bị cáo quanh co chối tội nhưng qua các lời khai của bị cáo, lời khai tại các bút lục, xét thấy hoàn toàn phù hợp, cáo trạng truy tố lừa đảo là đúng người, đúng tội, có cơ sở.

Không những thế, đại diện VKS còn khẳng định: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, liên tục đưa thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tiền của bị hại. Quá trình điều tra, quá trình thụ lý đơn tố giác tội phạm bị cáo liên tục gây khó khăn cho hoạt động điều tra. Từ đó, đại diện VKS đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 đến 20 năm tù giam và phải trả lại toàn bộ số tiền 860.000 USD đã chiếm đoạt.

Trong khi đó, luật sư Trần Thu Nam người bào chữa cho bị cáo Mây cũng thừa nhận hành vi của bị cáo có thể sai nhưng thực chất trong sự việc này chỉ là các mối quan hệ quen biết để xin dự án, có sự hứa hẹn thì đây là một giao dịch dân sự mà theo đó mọi hoạt động của bị cáo đã thực hiện đều do bị hại chỉ đạo. Từ đó, luật sư Nam đề nghị HĐXX trả hồ sơ điều tra bổ sung vì còn nhiều tình tiết chưa được cơ quan điều tra và viện kiểm sát làm rõ.

Đối đáp với quan điểm này, Luật sư Trần Quốc Toản, Trưởng văn phòng Luật sư Trần Quốc Toản, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội người bảo vệ quyền lợi cho bị hại cho rằng: Yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung của luật sư Nam là không có cơ sở bởi việc chứng minh tội phạm đã rõ và chính bị cáo đã nhận tội tại phiên toà. Từ đó luật sư đề nghị HĐXX không chấp nhận trả hồ sơ.

Bên cạnh đó, Luật sư Toản còn khẳng định rằng: “Việc bị cáo bị đề nghị mức án 18 đến 20 năm tù giam là quá nhẹ khi bị cáo không ăn năn hối cải, luôn quanh co chối tội rắp tâm thực hiện hành vi phạm tội đến cùng và nhiều lần…”. Bởi bị cáo Mây còn sử dụng những chiêu thức tinh vi khi nhờ những người thân quen lập hợp đồng mua bán đất với bị cáo nhằm thể hiện rằng bị cáo có điều kiện để trả lại tiền cho bị hại. Bị cáo còn lập văn bản hẹn trả lại tiền cho bị hại nhưng rồi không thực hiện. Nhưng thực chất đây là hợp đồng mua bán “ma” tự bị cáo vẽ ra nhằm qua mặt bị hại cũng như cơ quan điều tra để có thời gian tẩu tán tài sản. Theo thông tin thì số tiền bị cáo Mây nhận từ bị hại thì bị cáo lại đầu tư mua đất rồi nhờ người khác đứng tên hộ.

Khoảng thời gian bị cơ quan CSĐT Công an TP. Đà Nẵng triệu tập lấy cung để điều tra theo đơn tố giác, bị cáo Mây đã nhờ người thân mà đặc biệt là chủ nhà thuê lập hợp đồng đặt cọc mua bán nhà đất với bị cáo nhằm qua mặt cơ quan chức năng. Từ đó, bị cáo có thời gian tẩu tán tài dẫn đến hiện tại công tác thu hồi tài sản của cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn.

Đặc biệt, Luật sư Toản còn nhấn mạnh: “Việc bị cáo nhắn tin cho bị hại về việc đã có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư cho các dự án đã để trên bàn chưa đóng dấu vì thư ký của Chủ tịch đi vắng…nhằm mục đích tiếp tục lấy tiền và chứng minh việc bị cáo đang làm việc rất tốt nên bị hại mới bị lừa rồi chiếm đoạt số tiền lớn. Do đó không có cơ sở để trả hồ sơ mà cần phải áp dụng khung hình phạt cao nhất trong điều luật để đảm bảo tính răn đe, giáo dục  …”.

Sau 2 ngày xét xử, căn cứ vào các tài liệu, lời khai tại phiên toàn, ý kiến của các luật sư, đại diện bị, HĐXX nhận định hành vi phạm tội của bị cáo Mây là đặc biệt nghiêm trọng, chiếm đoạt số tiền lớn, khai báo quanh co, quyết tâm thực hiện hành vi đến cùng vì vậy cần phải cách lý bị cáo không có thời hạn ra khỏi đời sống xã hội để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa trong công tác đấu tranh với tội phạm.

Từ đó, HĐXX tuyên phạt bị cáo Lê Thị Mây mức tù chung thân vì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đồng thời yêu cầu bị cáo Mây phải trả lại số tiền hơn 18 tỷ đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại.

Tin liên quan

Cùng chuyên mục