Số 106: Tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính

20-06-2021 10:32
Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án là một yêu cầu khách quan trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII và nhiệm vụ Bộ Chính trị giao, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao đang xây dựng Đề án“Đổi mới tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII của Đảng đáp ứng yêu cầu của tình hình mới”, trong đó có việc tổ chức thực hiện thí điểm sáp nhập một số Tòa án cấp huyện. Đây là tiền đề để thực hiện chủ trương tổ chức Tòa án nhân dân theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính – là một giải pháp có tính đột phá trong công cuộc cải cách tư pháp, từng bước xây dựng Chiến lược cải cách tư pháp toàn diện hơn trong những năm tiếp theo đã được xác định tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án là một yêu cầu khách quan nhằm khẳng định vị trí, vai trò của Tòa án trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bảo đảm cho Tòa án thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người và là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm. Do đó, Đảng đã sớm ban hành những chủ trương về đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án.

Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân đã được xác định tại Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII ngày 23-01-1995 và tiếp tục được khẳng định, bổ sung trong các Nghị quyết của Đảng sau này. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) đề ra chủ trương “Sắp xếp lại hệ thống Tòa án nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền và tổ chức các Toà án theo cấp xét xử”. Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, đặc biệt là Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định Tòa án là trung tâm, xét xử là trọng tâm của hoạt động tư pháp.

Nghị quyết đề ra chủ trương tổ chức hệ thống Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính. Toà án sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; bảo đảm nguyên tắc độc lập trong hoạt động của Tòa án. Sau 5 năm thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, Bộ Chính trị đã ban hành. Kết luận số 79-KL/TW ngày 28-7-2010 theo đó, các Tòa án sẽ tổ chức theo 4 cấp: Toà án nhân dân sơ thẩm khu vực, Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Toà án nhân dân cấp cao, Toà án nhân dân tối cao. Toà án nhân dân sơ thẩm khu vực thành lập ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện trong cùng một đơn vị hành chính cấp tỉnh..

Để nâng cao hơn nữa vị trí, vai trò của Tòa án trong hệ thống chính trị, Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. So với Hiến pháp năm 1992 thì ngoài chức năng xét xử, Hiến pháp năm 2013 đã trao cho Tòa án thêm chức năng “thực hiện quyền tư pháp” là nhằm phân định quyền lực nhà nước theo hướng Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, lập pháp.

Khoản 2 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định “Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa án khác do Luật định” cho phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị là xác định tổ chức hệ thống Tòa án theo cấp xét xử không phụ thuộc vào địa giới hành chính, làm cơ sở cho việc tiếp tục đổi mới hoạt động tư pháp, phù hợp với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền. Tại Kết luận số 92-KL/TW ngày 12-3-2014 về kết quả tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, Bộ Chính trị yêu cầu: Tiếp tục thực hiện chủ trương tổ chức Toà án nhân dân theo cấp xét xử không phụ thuộc vào đơn vị hành chính. Toà án nhân dân được tổ chức 4 cấp như Kết luận số 79-KL/TW, ngày 28-7-2010 của Bộ Chính trị.

Thể chế hóa các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 được Quốc hội Khóa XIII thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 24/11/2014, có hiệu lực từ ngày 01/6/2015 đã có những thay đổi căn bản về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy Tòa án, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thực sự trở thành công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong việc bảo vệ pháp luật và là chỗ dựa của người dân trong bảo vệ công lý, quyền con người. Hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức theo 4 cấp, gồm: Tòa án nhân dân tối cao; 3 Tòa án nhân dân cấp cao; 63 Tòa án nhân dân cấp tỉnh; 710 Tòa án nhân dân cấp huyện. Các Tòa án quân sự được tổ chức theo 3 cấp, gồm: Tòa án quân sự Trung ương; 9 Tòa án quân sự quân khu và tương đương; 10 Tòa án quân sự khu vực.

Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, các Tòa án nhân dân cấp huyện vẫn được thành lập theo địa giới hành chính, nên dàn trải, nhiều đầu mối và tùy thuộc vào đặc điểm dân số, địa bàn địa lý, mức độ phát triển kinh tế – xã hội và tỷ lệ tội phạm, tranh chấp dân sự xảy ra trên địa bàn từng địa phương mà có nơi quá nhiều việc, có nơi lại quá ít việc. Thực tế cho thấy, theo quy định của Tòa án nhân dân tối cao về định mức xét xử: mỗi Thẩm phán Tòa án cấp huyện miền núi xét xử 5 vụ/tháng; thành phố thuộc tỉnh, quận mỗi Thẩm phán xét xử 7 vụ/tháng; các huyện đồng bằng còn lại 6 vụ/tháng/Thẩm phán). Các Tòa án cấp huyện loại I đang quá tải, một Thẩm phán giải quyết trung bình từ 9 đến 12 vụ, việc/tháng, đặc biệt một số Tòa án quận, huyện thuộc Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đồng Nai, Bình Dương… có Thẩm phán giải quyết từ 14 đến 18 vụ, việc/tháng. Trong khi các Tòa án cấp huyện loại III có số lượng các loại vụ, việc quá ít, có một số Tòa án, Thẩm phán giải quyết từ 1 đến 2 vụ, việc/tháng.

Do không được tổ chức theo thẩm quyền xét xử, nên chưa thực sự bảo đảm được nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”, chưa thực hiện đúng chủ trương “tăng thẩm quyền xét xử cho Tòa án nhân dân cấp huyện” theo Nghị quyết 49/NQ/TW. Vì vậy, thẩm quyền xét xử sơ thẩm hiện nay của Tòa án nhân dân cấp huyện chưa tương xứng với vị trí, vai trò của Tòa án cấp sơ thẩm, đã hạn chế việc tổ chức các Tòa chuyên trách, từ đó làm giảm tính chuyên môn hóa trong việc xét xử các loại vụ, việc. Thẩm phán không có điều kiện tốt nhất để tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng xét xử, từ đó, phần nào ảnh hưởng tới việc nâng cao chất lượng xét xử.

Trên cơ sở Báo cáo tổng kết 5 năm thi hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, bên cạnh những kết quả đã đạt được, đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Về tổ chức bộ máy bên trong Tòa án các cấp chưa hợp lý, chức năng, nhiệm vụ chưa rõ ràng, chồng chéo, không chuyên nghiệp, hiệu quả hoạt động chưa cao. Tổ chức các Tòa án cấp huyện gây dàn trải về biên chế, cơ sở vật chất, tạo thừa, thiếu cục bộ; cơ cấu các chức danh tư pháp mất cân đối, một số Tòa án thiếu nguồn đào tạo Thẩm phán; không thực hiện được chuyên môn hóa hoạt động xét xử ở Tòa án cấp huyện theo quy định của Luật.

Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, bên cạnh những kết quả cải cách tư pháp, việc chưa tổ chức Tòa án sơ thẩm khu vực đặt ra cho ngành Tòa án, các nhà khoa học, các luật gia nhiệm vụ tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa với những lý lẽ thuyết phục hơn nữa để trình các cơ quan có thẩm quyền quyết định. Tổng kết thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Kết luận số 84-KL/TW, ngày 29/7/2020, trong đó yêu cầu “Tiếp tục quán triệt và thực hiện các quan điểm, định hướng cải cách tư pháp nêu trong Nghị quyết 49 của Bộ Chính trị”.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII và nhiệm vụ Bộ Chính trị giao theo Chương trình làm việc số 05-CTr/TW, ngày 16/3/2021, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao đã xây dựng Đề án“Đổi mới tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII của Đảng đáp ứng yêu cầu của tình hình mới”, trong đó có việc tổ chức thực hiện thí điểm sáp nhập một số Tòa án cấp huyện. Đây là tiền đề để thực hiện chủ trương tổ chức Tòa án nhân dân theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính.

Về kiện toàn, tinh gọn tổ chức của Tòa án nhân dân cấp huyện, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao đề xuất thí điểm thực hiện sáp nhập 75 Tòa án cấp huyện thuộc 22 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo các tiêu chí: Việc sáp nhập bảo đảm đổi mới tổ chức của Tòa án cấp huyện tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo tinh thần các nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp. Sáp nhập Tòa án cấp huyện có quy mô nhỏ (số lượng án phải giải quyết dưới 300 vụ, việc/năm và có dưới 8 biên chế) vào Tòa án cấp huyện có quy mô trung bình (Tòa án loại II), có địa giới liền kề, thuận tiện về giao thông, để có điều kiện nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và Thẩm phán, thực hiện chuyên môn hóa sâu, nâng cao chất lượng xé xử và bảo đảm tính độc lập của Tòa án, phục vụ tốt yêu cầu của người dân. Việc sáp nhập Tòa án cấp huyện sẽ lựa chọn đại diện của các khu vực, vùng miền trên toàn
quốc.

Về tổ chức và hoạt động của các Tòa án được sáp nhập, để bảo đảm tính ổn định và theo quy định hiện hành, khi sáp nhập trước mắt lấy theo tên của Tòa án cấp huyện nơi có trụ sở chính. Về nhiệm vụ, thẩm quyền, Tòa án cấp huyện mới thực hiện thẩm quyền xét xử theo thủ tục sơ thẩm các loại vụ, việc thuộc thẩm quyền của các Tòa án cấp huyện nhập lại. Các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan thi hành án) vẫn thực hiện thẩm quyền theo địa hạt pháp lý hiện hành.

Về biên chế, Thẩm phán, Hội thẩm, về cơ bản Tòa án cấp huyện mới sẽ tiếp thu số lượng biên chế, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân của Tòa án cấp huyện được sáp nhập. Đồng thời, trên cơ sở số lượng các loại vụ, việc phải giải quyết cùng các điều kiện khác, thực hiện cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, Thẩm phán.

Về cơ sở vật chất, trụ sở Tòa án cấp huyện được sáp nhập sẽ bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý, sử dụng. Để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi tiếp cận với Tòa án, giữ lại một phần trụ sở của Tòa án bị sáp nhập để thực hiện công tác hòa giải, đối thoại tại Tòa án; tiếp nhận các đơn thư của công dân; thụ lý, giải quyết, xét xử một số vụ, việc dân sự và vụ án hình sự.

Về mô hình tổ chức Đảng đối với Tòa án nhân dân cấp huyện, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao đề xuất trước mắt giữ nguyên mô hình tổ chức Đảng như hiện nay. Tổ chức đảng của Tòa án nhân dân cấp huyện trực thuộc Đảng bộ cấp huyện. Tổ chức đảng của Tòa án nhân dân cấp huyện được thí điểm sáp nhập trực thuộc Đảng bộ Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Về nhân sự cấp ủy giữ nguyên như hiện nay, Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện là huyện ủy viên.

Về truyền thống pháp lý, tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, trong đó có Tòa án cấp sơ thẩm đã được thực hiện ở nước ta từ năm 1946 đến 1959. Mặt khác, tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử là nguyên tắc mang tính phổ biến của hệ thống tư pháp đang được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Trong quá trình xây dựng Đề án, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao đã phối hợp với các cơ quan, bộ, ban, ngành ở Trung ương, thành lập Ban Chỉ đạo và Tổ biên tập Đề án; tổ chức nhiều hội thảo với sự tham gia của các nhà khoa học, các chuyên gia, đại diện các cơ quan có liên quan, tổ chức các hội nghị lấy ý kiến của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án các cấp trong toàn hệ thống. Báo cáo Chủ tịch nước, Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương; lấy ý kiến của Ban Tổ chức Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các Ủy ban của Quốc hội và một số bộ, ngành; trực tiếp làm việc hoặc gửi dự thảo lấy ý kiến của các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương. Những ý kiến đóng góp của các cơ quan và chuyên gia đều được Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao tiếp thu hợp lý để hoàn thiện Đề án.

Trên cơ sở các ý kiến góp ý, Tổ biên tập sẽ tổng hợp, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện Đề án “Đổi mới tổ chức bộ máy TAND tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, theo Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII của Đảng đáp ứng yêu cầu tình hình mới” để cáo Bộ chính trị cuối tháng vào 7/2021. Trong khi chờ các cấp có thẩm quyền thông qua đề án vị trí việc làm và trên cơ sở nguyên tắc xác định biên chế đã nêu trong đề án, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao mong muốn các cơ quan có thẩm quyền cho phép Tòa án nhân dân từ nay đến hết năm 2022 có tổng biên chế như Nghị quyết số 473a/NQUBTVQH13 ngày 28/3/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bên cạnh đó, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao báo cáo Quốc hội thí điểm sáp nhập 75 Tòa án cấp huyện thuộc 22 tỉnh, thành phố; trên cơ sở thí điểm sẽ sơ kết, báo cáo Bộ Chính trị về giải pháp cải cách tư pháp tổng thể vào tháng 10/2022.

Giai đoạn từ nay đến hết năm 2021, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao tiến hành đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy bên trong của Tòa án các cấp, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tổ chức thực hiện thí điểm sáp nhập một số Tòa án cấp huyện; đề xuất biên chế bảo đảm hoạt động của Tòa án các cấp đến hết năm 2022; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử đối với tổ chức, hoạt động của Tòa án nhân dân.

Giai đoạn từ sau năm 2022, căn cứ Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao sẽ đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 hướng tới “Xây dựng Tòa án nhân dân chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, minh bạch, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”, từng bước xây dựng Chiến lược cải cách tư pháp toàn diện hơn, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Thực hiện: Truyền hình Tòa án nhân dân

Tin liên quan

Cùng chuyên mục

Tiêu điểm